Xuất khẩu hàng nông, thủy sản sơ chế: ‘Thiệt đơn, thiệt kép’

(TBTCO) - Thực tế cho thấy, nếu không có những giải pháp đồng bộ để gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ hàng nông, thủy sản chế biến sâu phục vụ xuất khẩu (XK) thì đó sẽ là thiệt thòi lớn cho doanh nghiệp (DN) và nền kinh tế đất nước.
>> Nông nghiệp 4.0 là "chìa khóa" để tiếp cận thị trường châu Âu
>> Việt Nam - Nhật Bản: Cơ hội gia tăng xuất nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp

Đây là chủ đề được trao đổi, thảo luận tại hội thảo “Chính sách nâng cao chất lượng hàng nông, thủy sản và thực phẩm chế biến: Thực trạng, bất cập và giải pháp”, do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 20/9, tại Hà Nội.

Phần lớn sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng thấp

Bà Lê Thị Bích Thu – đại diện Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho biết, hiện nay, cả nước có khoảng 7.500 cơ sở chế biến nông sản có quy mô công nghiệp gắn với XK, đưa các sản phẩm nông sản của Việt Nam XK tới hơn 180 nước và vùng lãnh thổ, kể cả nhiều thị trường khó tính như thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản…

Tuy nhiên, bà Thu cũng cho rằng, mặc dù kim ngạch XK nông sản của Việt Nam có mức tăng trưởng hàng năm khá (bình quân tăng khoảng 8 – 10%/năm), song sản phẩm chế biến chủ yếu vẫn là sơ chế có giá trị gia tăng (GTGT) thấp (chiếm 70 – 85%), sản phẩm chế biến có GTGT cao mới chỉ chiếm khoảng 15 – 30%. Ví dụ so với tổng sản lượng sản phẩm, tỷ lệ các sản phẩm được đầu tư chế biến sâu, có GTGT của mặt hàng cà phê chỉ chiếm 10%, điều 5%, chè 5%, cá tra 10%, tôm khoảng 40%... Ngoài ra, tổn thất sau thu hoạch còn lớn (10 – 20%), do thiếu cơ sở vật chất bảo quản đáp ứng yêu cầu…

Đồng quan điểm trên, ông Vũ Huy Phúc – đại diện Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn cho biết thêm, hiện nay, khâu chế biến mới chỉ sử dụng 5 – 10% sản lượng nông sản XK.

Đặc biệt, đầu tư cho công nghiệp chế biến chưa tương xứng với tốc độ phát triển của ngành Nông nghiệp. Hệ số đổi mới thiết bị trong những năm qua mới chỉ ở mức 7%/năm (bằng 1/2 đến 1/3 mức tối thiểu của các nước khác). Trình độ công nghệ chế biến nhiều mặt hàng nông sản chiếm trên 90% là ở mức độ trung bình và lạc hậu.

Hội thảo 

 Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: D.T

Bên cạnh đó, việc tận dụng các phế phụ phẩm để sản xuất các sản phẩm phụ rất hạn chế, chưa khai thác hết tiềm năng. Ví dụ, trong sản xuất lúa gạo, với sản lượng trên 40 triệu tấn lúa/năm, mỗi năm có khoảng 40 triệu tấn rơm, 8 triệu tấn trấu và 4 triệu tấn cám có thể tạo nên những sản phẩm GTGT ngoài gạo như dầu cám, thức ăn chăn nuôi, củi trấu, phân bón, giá thể nấm...

Hay trong sản xuất đường, mỗi năm dư thừa khoảng 1 triệu tấn bã mía có thể sử dụng làm nguyên liệu phát điện và 600.000 tấn mật rỉ có thể sản xuất nhiên liệu sinh học từ mật rỉ; chế biến điều mỗi năm có khoảng 400.000 tấn vỏ thô có thể sử dụng chế biến ra dầu vỏ điều…, song mới được sử dụng còn rất ít.

Cần thành lập trung tâm phân phối tại nước ngoài

Bà Lê Thị Bích Thu cho biết, tại “Kế hoạch cơ cấu lại lĩnh vực chế biến nông sản theo hướng nâng cao năng lực chế biến gắn với phát triển thị trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”, đã đặt ra rất nhiều mục tiêu cụ thể cho ngành công nghiệp chế biến nông sản của Việt Nam.

Cụ thể như, đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến nông sản trong GDP của ngành Nông nghiệp đạt trên 30%; tốc độ tăng giá trị hàng nông sản qua chế biến đạt 7 – 8%/năm; trên 50% số cơ sở chế biến các mặt hàng nông sản XK chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến; xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, DN chế biến nông sản có quy mô lớn, hiện đại, năng lực cạnh tranh quốc tế cao…

Để hiện thực hóa được những mục tiêu trên, theo ông Vũ Huy Phúc, cần nhiều giải pháp đồng bộ, trước hết, ngành Nông nghiệp cần đẩy mạnh tái cơ cấu theo hướng tổ chức sản xuất hàng hóa lớn gắn với lợi thế từng vùng và theo nhu cầu thị trường. Phát triển các cụm liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ nông sản tại các địa phương, các vùng có sản lượng nông sản lớn, thuận lợi giao thông, có tiềm năng trở thành động lực tăng trưởng cho cả khu vực.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đầu tư vào chế biến nông sản, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng tỷ trọng chế biến sâu có GTGT cao. Gắn kết chế biến với việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo 3 nhóm sản phẩm gồm: nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia, nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh, nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương…

Đồng quan điểm trên, từ góc độ ngành hàng thủy sản, bà Trần Hoàng Yến – Phó Giám đốc Trung tâm VASEP.PRO chia sẻ thêm thông tin, đa phần sản phẩm thủy sản Việt Nam XK ở dạng sơ chế không phải tất cả là do năng lực của DN Việt kém. Bởi thực tế, ở nhiều hội chợ hàng thủy sản, nhiều DN Việt đã quảng bá rất nhiều sản phẩm chế biến sâu có chất lượng tốt.

Vấn đề ở đây là thị trường, đa phần thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản (chiếm đến hơn 80% tổng kim ngạch XK) họ muốn nhập sản phẩm sơ chế của Việt Nam, sau đó đưa về nước họ để chế biến sâu, từ đó thu lại hàm lượng GTGT. Vì vậy, hiện tại nhiều mặt hàng thủy sản của Việt Nam không XK được sản phẩm chế biến sâu, do thị trường không mua.

“Vì vậy, đề xuất ngành Nông nghiệp cần xúc tiến thành lập trung tâm phân phối ở Mỹ, châu Âu… để hàng nông, thủy sản Việt Nam có thể trực tiếp phân phối vào các chuỗi bán lẻ của các nước EU, Mỹ… Hiện tại, sản phẩm của Việt Nam vẫn phân phối qua các đối tác trung gian, họ chế biến lại sản phẩm của mình rồi phân phối, nếu Việt Nam không có các nhà bán lẻ của chính mình tại thị trường các nước nhập khẩu thì rất khó để XK được những sản phẩm chế biến sâu, đem lại GTGT cao hơn cho DN và nền kinh tế đất nước” – bà Yến nhấn mạnh./.

Diệu Thiện
Nguồn: thoibaotaichinhvietnam.vn