Bức tranh rõ nét về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp

(TBTCO) - Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của các tỉnh vùng Trung du và miền núi Bắc bộ đạt nhiều kết quả ấn tượng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo ra một bức tranh rõ nét về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp của vùng.
MNTDBB
Hội nghị tổng kết 15 năm ngành NN&PTNT thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị. Ảnh: NNK

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Lê Quốc Doanh đã cho biết như vậy, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên TBTCVN bên lề hội nghị tổng kết 15 năm ngành NN&PTNT thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW (NQ 37) của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ (TDMNBB) đến năm 2020, do Bộ NN&PTNT và Ban Kinh tế Trung ương phối hợp tổ chức sáng ngày 20/9/2019, tại Hà Nội.

*PV: TDMNBB là một trong những vùng kinh tế quan trọng, góp phần phát triển nông nghiệp của cả nước. Nhìn lại 15 năm thực hiện NQ 37, kết quả đáng chú ý nhất của vùng này đạt được là gì, thưa ông?

- Ông Lê Quốc Doanh: Sau 15 năm thực hiện NQ 37 của Bộ Chính trị, kinh tế vùng TDMNBB tăng trưởng khá, tốc độ tăng trưởng nông lâm thủy sản bình quân hàng năm đạt 4,87%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.

Nông nghiệp phát triển khá toàn diện, đã hình thành được một số vùng sản xuất hàng hóa, vùng chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến và đảm bảo an ninh lương thực. Ngành Nông nghiệp cung cấp lương thực cho hơn 12 triệu người và góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho khoảng 3 triệu người.

Đặc biệt, ngành Nông nghiệp có nhiều kết quả rất ấn tượng. Thứ nhất, về lâm nghiệp, trong 15 năm tỷ lệ che phủ rừng đã tăng từ 42% lên 55,6%. Đây là sự cố gắng rất lớn của các chính quyền địa phương trong vùng, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người dân.

Thứ hai, trong vùng đã khai thác điều kiện lợi thế về tự nhiên, đã hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và một số địa phương chú trọng hiện đại hóa nền nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Ví dụ, tỉnh Sơn La đã hình thành vùng phát triển cây ăn quả, gắn phát triển những cây ăn quả rất lợi thế như nhãn, xoài… Đồng thời, gắn công nghiệp chế biến và  mời các doanh nghiệp (DN) về đầu tư tạo chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, tổ chức sản xuất của các tỉnh đã thay đổi, hình thành các hợp tác xã chuyên từng ngành hàng gắn kết với DN và người nông dân. Đây là mô hình đặc trưng của vùng và cũng là mô hình để nhiều địa phương khác trong nước tham khảo.

 

Ông Lê Quốc Doanh 

Ông Lê Quốc Doanh

Ngoài ra, các địa phương của vùng này tiếp tục đảm bảo an ninh lương thực bền vững. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp không nhiều nhưng các tỉnh đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp năng suất chất lượng lúa, cây lương thực khác tăng cao, không những đảm bảo an ninh lương thực tại vùng mà trở thành một phần hàng hóa đặc sản cung cấp cho cả nước, kể cả xuất khẩu.

*PV: Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, đến thời điểm này, ông nhìn nhận gì về những tồn tại của khu vực kinh tế này?

- Ông Lê Quốc Doanh: Nông nghiệp, nông thôn vùng TDMNBB còn tồn tại khá nhiều hạn chế. Việc cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và đổi mới mô hình sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, hiệu quả thấp.

Các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị nông sản giữa DN và nông dân chưa nhiều… Sản xuất hàng hóa nông nghiệp vẫn ở hình thức nhỏ lẻ, manh mún, do đó giá trị sản xuất, lợi thế cạnh tranh, thu nhập của người dân còn thấp. Tỷ lệ đạt tiêu chí nông thôn mới đều thấp hơn so với bình quân chung cả nước…

Nguyên nhân do vùng TDMNBB có điều kiện tự nhiên, địa hình phức tạp, nhiều khu vực bị chia cắt bởi đồi núi, sông suối nên việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng rất khó khăn, suất đầu tư lớn, nhất là khu vực miền núi, nên hiệu quả đầu tư chưa cao.

Cùng với đó, cơ sở hạ tầng giao thông, đặc biệt giao thông kết nối giữa các địa phương, kết nối trong vùng còn khó khăn. Song song đó, xuất phát điểm về kinh tế - xã hội rất thấp…

* PV: Tại hội nghị này, các địa phương có đề xuất gì để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nền nông nghiệp, nông thôn của vùng trong thời gian tới, thưa ông?

- Ông Lê Quốc Doanh: Mục tiêu phát triển đối với vùng TDMNBB đến năm 2030 là tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) đạt trung bình khoảng 3,5%/năm giai đoạn 2021 – 2030.

Do đó thời gian tới, vùng tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển cây trồng, vật nuôi lợi thế của vùng, nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững; tăng cường hợp tác, liên kết trong sản xuất – chế biến – tiêu thụ; nâng cao chất lượng và quy mô xây dựng nông thôn mới…

Để đạt mục tiêu này, tại hội nghị hôm nay, các địa phương đều kiến nghị Bộ Chính trị tiếp tục có nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh của vùng TDMNBB. Theo đó, các chính sách đối với vùng này cần cụ thể và phải có chính sách đặc thù mới phát triển được; đặc biệt phải có chính sách về cơ sở hạ tầng, giao thông để kết nối các tỉnh nhỏ lẻ trong vùng, tạo sự liên kết vùng chặt chẽ hơn…

*PV: Xin cảm ơn ông!

Khánh Linh
Nguồn: thoibaotaichinhvietnam.vn